Nhôm sunfat (Al2(SO4)3), thường được gọi là phèn, được sản xuất dưới dạng tinh thể màu trắng, không cháy và tan trong nước. Chất hydrat khô này (Al2(SO4)3.14H2O) chứa 17% Al2O3 và cũng được bán dưới dạng dung dịch nhôm sunfat 47% w/w, trong đó 8% là Al2O3. Nó cũng được bán ở dạng rắn dưới dạng viên, bột hoặc bụi.
Nhôm sunfat, Al2(SO4)3, được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp. Ứng dụng phổ biến nhất của nó là trong ngành công nghiệp bột giấy và giấy, và trong việc lọc nước. Con người đã sử dụng nhôm sunfat từ năm 2000 trước Công nguyên, khi người Ai Cập sử dụng một loại khoáng chất như phèn làm chất cố định màu trong nhuộm. Nó từ lâu đã được sử dụng trong quá trình hồ giấy để cải thiện độ bền và khả năng hấp thụ mực, và trong xử lý nước để làm trong nước. Các ứng dụng khác của phèn bao gồm xử lý nước thải, làm chất chống thấm và chất xúc tiến trong bê tông, làm chất làm trong cho chất béo và dầu, và làm chất tạo bọt trong bọt chữa cháy.
Phèn (thường được gọi là nhôm sunfat) được sản xuất theo quy trình hai bước đơn giản từ nhôm trihydrat và axit sulfuric theo phản ứng sau:
2Al(OH)3 + 3H2SO4 + 8H2O → Al2(SO4)3 .14H2O ∆fH = -156 kJ mol-1
Bước đầu tiên là trộn các nguyên liệu trong lò phản ứng, và bước thứ hai là quá trình nghiền nguyên liệu để tạo ra các loại phèn rắn khác nhau được bán ra thị trường.
Nguyên liệu thô
Nhôm trihydrat được tinh chế từ quặng bauxite. Các mỏ bauxite thương mại (30-75% Al2O3) có ở Úc, Jamaica, Pháp, Guyana, Guinea, Mỹ và Brazil. Quặng bauxite được hòa tan trong dung dịch xút ăn da đậm đặc để tạo thành natri aluminat. Nhôm trihydrat sau đó được kết tủa bằng phương pháp trung hòa (thường bằng carbon dioxide) hoặc bằng phương pháp tự kết tủa (quy trình Bayer). Nguyên liệu thô khác, axit sulfuric, được sản xuất để làm phân bón superphosphate tại công ty Farmers Fertiliser Ltd. Axit được vận chuyển bằng xe bồn và bơm vào các bể chứa.
Thời gian đăng bài: 18/02/2022